Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Vận động như thế nào để có lợi cho sức khoẻ ?


Vận động như thế nào để có lợi cho sức khoẻ ?

                                                                        Hoàng Khánh Toàn


Sự sống là vận động, cơ thể con người dù ở bất cứ trạng thái nào cũng luôn luôn vận động. Nước chảy thì không hôi thối, trục cánh cửa quay thì không han gỉ, cơ thể con người thường xuyên vận động thì mạnh khoẻ, ít bệnh tật và sống lâu.





Các nhà động vật học phát hiện rằng: mọi động vật ở trong môi trường hoang dã bao giờ cũng sống lâu hơn khi bị nuôi nhốt trong vườn bách thú. Ví như, thỏ hoang sống trung bình 15 năm, còn thỏ nuôi nhốt trong chuồng dù tốt mấy cũng chỉ sống được 4 - 5 năm; lợn rừng sống lâu gấp đôi lợn nhà,... Nguyên nhân chủ yếu là động vật hoang dã phải vận động nhiều hơn động vật nuôi nhốt. Với con người cũng vậy, vận động là cái gốc của sự mạnh khoẻ, sống lâu. Nhưng, vấn đề là ở chỗ: vận động như thế nào để có lợi nhất cho sức khoẻ ?
Có người, dù tuổi đã cao nhưng vẫn thích những loại hình vận động hùng hục, tốn kém nhiều sức lực chẳng kém gì thanh niên. Ngược lại, có người dẫu đang ở tuổi thanh xuân, nhưng suốt ngày giam mình trong buồng vi tính, nếu có vận động thì cũng chỉ làm vài động tác khoa chân, múa tay cho phải phép. Điều đó hoàn toàn đi ngược lại với qua điểm của các nhà dưỡng sinh y học cổ truyền. Theo họ, nguyên tắc dưỡng sinh vận động, cụ thể là :

Chọn hình thức luyện tập hợp lý: Nghĩa là, hạng mục tập luyện phải phù hợp với sở thích, tuổi tác, nghề nghiệp, điều kiện sức khoẻ. Ví như, với người có tuổi, do sức lực cơ bắp suy giảm, phản ứng thần kinh chậm chạp, khả năng phối hợp kém linh hoạt, thì nên chọn những những phương thức tập luyện nhẹ nhàng, mềm mại như đi bộ, thái cực quyền, dưỡng sinh, yoga...; với thanh niên trai tráng thì nên chọn những hình thức tập luyện vận động đòi hỏi sức lực nhiều như chạy xa, bóng rổ, bóng đá...; với những nhân viên bán hàng, đầu bếp... vốn phải đứng lâu, tĩnh mạch chi dưới dễ bị giãn thì khi vận động không nên chạy nhảy nhiều mà nên chọn các bài tập ở tư thế nằm ngửa, giơ cao chân...

Kết hợp hài hoà giữa động và tĩnh : nghĩa là, khi vận động nhất thiết cả thần lẫn hình, cả trong lẫn ngoài phải bảo đảm "trong tĩnh có động", "trong động có tĩnh", "lấy động chế tĩnh", "lấy tĩnh chế động", động ở ngoài mà tĩnh ở trong, động chủ luyện tập mà tĩnh chủ dưỡng thần, tuyệt đối không thiên lệch.

Phải hết sức kiên trì và đều đặn: cổ nhân có câu: "Băng dày ba thước, đâu phải do lạnh một ngày", ý nói không thể một sớm một chiều đã nên chuyện. Vậy nên, việc luyện tập phải thường xuyên, không gián đoạn, nếu chỉ vì cao hứng mà bữa đực bữa cái thì chẳng nên cơm cháo gì mà nhiều khi lại mang hoạ vào thân.

Vận động phải vừa sức, không nên thái quá mà bất cập: nghĩa là, việc tập luyện phải vừa sức đúng như y thư cổ Thiêm kim yếu phương của danh y Tôn Tư Mạo đã viết: "Theo đạo dưỡng sinh, cần thường xuyên luyện tập, nhưng chớ tập đến mức quá mệt, chớ tập quá sức". Vậy thế nào là tập vừa sức ? Nếu sau mỗi lần tập luyện mà cơ thể cảm thấy thoải mái, tinh thần sảng khoái, huyết áp, tần số mạch dao động không quá mức là được.

Vận động phải tuần tự, thư thái tự nhiên: Nghĩa là, việc tập luyện phải từ từ, tịnh tiến, đi từ dễ đến khó, từ nặng đến nhẹ, từ đơn giản đến phức tạp. Tuyệt đối không được "đốt cháy giai đoạn". Ví như, việc chạy chậm phải đi từ cự li ngắn đến dài, từ tốc độ rất chậm nhanh dần đến tốc độ vừa phải.

Phải lựa chọn vận động vào thời gian thích hợp: Nhìn chung, tập vào sáng sớm là rất tốt vì khi đó không khí tương đối trong lành, nồng độ dưỡng khí nhiều, lượng khí cac-bo-nic thấp. Tập vào buổi chiều hoặc buổi tối cũng được, vì sẽ giúp cho cơ thể giải toả mọi căng thẳng sau một ngày làm việc vất vả, tuy nhiên không nên tập quá nhiều vì sẽ khiến cho hệ thần kinh bị hưng phấn làm ảnh hưởng tới giấc ngủ. Việc tập luyện cũng nên tránh xa bữa ăn vì nếu tập ngay sau bữa ăn thì sẽ ảnh hưởng không tốt tới hoạt động hấp thu và chuyển hoá của tì vị, thậm chí có thể đưa đến những tai biến không đáng có.

 


Bài đọc thêm

NHỮNG BÀI TẬP TĂNG SỨC KHỎE, KÉO DÀI TUỔI THỌ



http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/nhung-bai-tap-tang-suc-khoe-keo-dai.html



NHỮNG BÀI TẬP TĂNG SỨC KHỎE, KÉO DÀI TUỔI THỌ

5_1 Rèn luyện thân thể
                     Đại cương
      Đi bộ
      Đi xe đạp
      Xoa bóp
      Taichi/Yoga/Khí công
       Bơi lội
            5_2 Tập luyện tinh thần/trí óc
      Thiền
       Rèn luyện trí óc

5_3 Tâm linh
 Bài tập thể dục đa năng
Bs PHẠM XUÂN PHỤNG
Tương truyền rằng bài tập phất thủ hay phẩy tay do Đức Đạt Ma tổ sư, vương tử thứ ba của vương quốc nước Thiên Trúc (ngày nay thuộc Ấn Độ), vị tổ của nền võ học Trung Hoa, nghiên cứu ra sau giai đoạn tiềm tu "Cửu niên diện bích" (9 năm quay mặt vào tường để quán tưởng và tinh tấn để đạt đạo), nhằm hồi phục sinh lực sau một thời gian luyện võ mệt mỏi của môn đệ. Nhận thấy bài tập có lợi trong việc phòng và trị bệnh cũng như giữ gìn sức khỏe, người đời truyển nhau tập luyện cho đến ngày nay. Là người đã thực hành và hướng dẫn cho nhiều bệnh nhân tập luyện trong nhiều năm qua, chúng tôi xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo và mong các bậc cao niên nhiều kinh nghiệm chỉ giáo thêm. 
CÁC ĐỘNG TÁC CỦA BÀI TẬP PHẨY TAY
-Đứng thẳng, hai bàn chân hơi dạng ra rộng bằng vai. Ngón chân bám chặt vào đất hoặc ván gỗ. Hai tay buông thẳng tự nhiên. Năm ngón tay khép kín nhưng nhẹ nhàng. Lòng bàn tay úp theo tư thế tự nhiên
-Từ từ đưa hai bàn tay ra phía trước, như có ai buộc giây vào hai cổ tay mình mà kéo lên. Bản thân như không dùng sức. Lòng bàn tay úp xuống, cong tự nhiên, các ngón tay khép nhẹ. Khi hai tay lên cao ngang vai song song với nhau thì dừng lại. Lưng bàn tay hướng lên trời, lòng bàn tay hướng xuống đất. Hít vào từ từ trong quá trình này
-Dùng sức thật mạnh (như cố giật đứt sợi giây đang buột cổ tay) phẩy mạnh hai tay xuống dưới và ra sau lưng. Khi di động ra sau hết cỡ tự nhiên, hai cánh tay lập thành một hình thang mà đáy lớn là khoảng cách giữa hai đầu mút các ngón tay, rộng hơn vai một chút theo tỷ lệ ước định 6/5. Ví dụ hai vai rộng 40 cm thì hai bàn tay cách nhau cỡ 48 cm Thở ra từ từ.
Chú ý : Hai tay vẫn thẳng tự nhiên (nghĩa là hơi cong ở khủy tay),không co cẳng tay lại. Không bắt chéo hai tay vào nhau hoặc hướngnhau ở sau lưng. Lòng bàn tay ngửa lên trời khi động tác vừa chấm dứt.
-Từ từ bị kéo hai tay ra trước như động tác 2. Sau đó lập lại động tác 3, 4 ... Cứ thế, hai tay đong đưa lui tới, như quả lắc (Có lẽ vì thế, có người gọi bài tập này là lắc tay chàng ?).
Sau vài lần đong đưa theo động tác mẫu, hai tay sẽ tự nhiên đong đưa lui tới theo quán tính, không cần gắng sức. Tuy có vẻ dễ thực hành, song cũng xin ghi ra dưới đây :
NHỮNG ĐIỀU QUAN TRỌNG CẦN GHI NHỚ
-Suốt quá trình tập : Miệng khép tự nhiên, hai hàm răng khít, nhưng không cắn chặt, môi kín, lưỡi cong lên, và luôn luôn áp sát vào vòm khẩu cái (hốc trên của miệng) nhằm nối hai mạch Nhâm và Đốc để khí luân lưu toàn thân.                         Rất dể quên động tác ép lưỡi này. Không sao cả, cứ nhẩm đi nhẩm lại trong đầu, lỡ quên thì làm lại chớ đừng ngưng tập vì sợ hải, sau nhiều lần tự nhiên quen.
-Suốt quá trình tập : Các ngón chân bấm chật vào đất hoặc ván gỗ, không tập trên sàn xi măng hoặc gạch hoa cách đất. Tốt nhất, tập trên ván gỗ kê nghiêng cách mặt đất chừng 15 độ. Truớc cao sau thấp.
-Suốt quá trình tập : Hậu môn luôn thót lại để bế dương khí, không cho thoát ra : Nếu không thót hậu môn, cứ để tự nhiên mà tập, sẽ có thể bị trĩ hoặc sa thực tràng (lòi dom) do khí bị dồn ép xuống Đan điền, tăng sức ép vùng chậu hông. Hô hấp tự nhiên (nhẹ và đều) nhằm giải thoát này một phần. Bế khí lành, trục khí độc.                                           Rất hay quên động tác này. Cố ghi nhớ khi quên sực nhớ ra cứ làm lại và cứ tập. Sau vài buổi tập, tự nhiên điều khiển được. Nhưng phải nhớ hai chân luôn đứng rộng bằng vai.                                                                                        Người đang bị trĩ, sa trực tràng, sỏi tiết niệu, đại tiện lỏng do rối loạntiêu hoá hoặc bệnh đường ruột không nên tập. Hếtđi lỏng, tập nhưthường - Lời khuyên dè dặt.                                                                                                                         Người táo bón kinh niên, tập bài nay rất tốt nếu bị trĩ hoặc sa thực tràng - Lời khuyên theo kinh nghiệm lâm sàng thực tế. 
-Ngoài ba động tác cố nhớ và cố sức trên đây, toàn bộ các tác động còn lại (trừ động tác phẩy tay ra sau) đều tuân thủ nguyên tắc : tự nhiên, nhẹ nhàng, mềm mại.
-Khi phẩy tay, các khớp xương tay thỉnh thoảng cong lại rồi duỗi thẳng ra, nhất là khớp cổ tay.
-Khi phẩy tay, mắt luôn nhìn thẳng về một điểm tưởng tượng hoăc có thật ở phía trước. Tập trung tư tưởng vào các việc : hô hấp đều, ép lưỡi, bấm ngón chân, thót hậu môn và đếm số lần phẩy tay. Không nghĩ vu vơ.
-Khi phẩy tay một hồi, cảm thấy mệt mỏi, phải dừng lai ngay. Hôm sau tập tăng dần. Những buổi đầu, tập phẩy tay từ vài chục lần/buổi. Dần dần nâng lên 1000 lần đến vài ngàn lần/buổi. Theo kinh nghiệm bản thân, một buổi tập phẫy 1000 lần mất chừng 30 phút. Tốc độ phẫy tay tương đương tốc độ đong đưa tay (đánh đường xa) khi ta bước nhanh.
-Tập mỗi ngày 1-2 lần. Buổi sáng, sau khi đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh thân thể. Buổi tối, sau khi làm vệ sinh thân thể, tập xong lên giường ngủ luôn. Nhớ kỹ  sau khi tập, không được dùng nước lạnh hoặc nước ấm để lau rửa thân thểvì sẽ làm tiêu hao nguyên khí.
-Vấn đề phản ứng : Mới tập ít buổi, giai đoạn khí huyết đang lưu chuyển, biến hoá sẽ sinh ra một số phản ứng của cơ thể (người có, người không) : hắt hơi, trung tiện nhiều, tê đầu ngón tay, đau đầu ngón chân, cảm giác nóng lạnh bất thường, cảm giác kiến bò, chấn động trong mình.                                                      Đó là do lâu nay khí huyết uế, huyết trọc bị ứ đọng, kinh lạc có chỗ bất thông. Nay do tập luyện đúng cách, khí huyết được thanh lọc, khí uế huyết trọc được trục dần ra ngoài, xuống dưới, kinh lạc được khai thông lưu chuyển tạo nên các triệu chứng trên. Đó là các dấu hiệu tốt. Tập lâu dần,tự nhiên khí huyết bình hoà, kinh lạc thông suốt, cơ thể trở nên khoẻmạnh, không còn các dấu hiệu trên.         
KẾT LUẬN
Đặc điểm cơ bản của phẩy tay là : Thượng hư - Hạ thực. Làm cho trênn rỗng, dưới đầy. Trên nhẹ, dưới nặng, động tác nhu hòa, tinh thần tập trung, hai tay đong đưa mềm dẻo theo đường cong của Thái cực làm cho có thể cải thiện được tình trạng Thượng thực - Hạ hư của những người có thể chất yếu, tiên thiên bất túc, hậu thiên bất tục, những người lao tâm khổ trí, uẩn ức ưu phiền, quân hỏa suy, tướng hỏa vượng, gây nên chứng trên nặng dưới nhẹ, đầu váng, mắt hoa, đau nhức mình mẩy, mất ngủ về đêm, buồn ngủ lúc làm việc, chân tay uể oải, đại tiện táo kết, tiểu tiện đỏ, đi đứng liêu xiêu, tai ù, mắt mờ.
Tình trạng trên được cải thiện, phần dưới được kiên cố nên nặng, phần trên cần linh hoạt nên nhẹ, đều được như ý. Bệnh tật sẽ tự tan biến đi.
CHỈ ĐỊNH
-Các chứng đã nêu trong phần yếu luận.
-Bồi bổ chân nguyên, thanh lọc khí huyết, tăng cường sinh lực và sự
mền dẻo, độ bền của cơ lực và trí nhớ.
-Tự nhiên chữa được các chứng đau lưng, đau cơ khớp, đau mỏi vai
gáy, cánh tay, uể oải mệt nhọc, biếng ăn ...

CHỐNG CHỈ ĐỊNH  (theo thực tế lâm sàng) :
-Trĩ nặng, sa trực tràng, sỏi tiết niệu.
-Bệnh tim mạch nặng, có dấu hiệu suy tim.
-Thận trọng với các chứng : Cao huyết áp kịch phát, động kinh, rối
loạn tiền đình, u não, glaucome ...
-Tạm dừng tập khi : Bị đi lỏng, thai cuối kỳ, đang hành kinh.

KINH NGHIỆM BẢN THÂN
-Gần 50 tuổi, đọc chữ nhỏ không cần đeo kính.
-Mất ngủ (ngủ ít, ngủ không sâu, hay mơ loạn, tỉnh dậy hồi hộp đánh
trống ngực, nặng đầu, trí nhớ kém sút, chán ăn, sức làm việc giảm)
hàng tháng trời. Tập bài này, ngay lần đầu tiên đã có một giấc ngủ
say, sáng dậy thấy sảng khoái. Nay có thể thức thâu đêm làm việc.
-Táo bón : Hay bị táo bón, tập đến ngày thứ 3, khi đi ngoài phân
nhuyễn, cảm giác êm ái. Nay hết táo bón đã nhiều năm.
-Đau lưng : Trước đây, ngồi hay đứng lâu độ một giờ, thấy lưng đau êẩm. Nay có khả năng ngồi đọc sách và viết liên tục 4-5 giờ đồng hồkhông thấy đau lưng. 
Ghi chú
Các chỉ định và chống chỉ định trên đây là dựa vào thưc tế hướng dẫn cho người bệnh tập luyện rồi đúc rút lại. Cũng chỉ mới dừng ở mức kinh nghiệm lâm sàng. Cần và mong được tạo điều kiện pháp lý để tiến hành nghiên cứu nghiêm túc bởi nhiều nhà y học, nhà võ học, để tổng kết thành một công trình Nghiên Cứu Khoa Học Y học hẳn hoi.
LỜI CA TRUYỀN KHẦU VỀ 16 YẾU LĨNH  &
LỜI KHUYÊN LỢI ÍCH CỦA PHẤT THỦ LIỆU PHÁP
Đứng vững chuyển mãi các khớp xương
Gân cốt giản ra, hơi độc tiêu
Hư thực đổi thay hơi khép mở
Khí đều tay chân trăm mạch sống
Trên ba dưới bảy có trọng tâm
Hai chân đứng vững vai trì xuống
Khử bệnh đầu nặng chân nhẹ đó
Tinh khí tràn trề thân nhẹ nhõm
Phẩy tay trị bệnh đúng nguyên nhân
Hơn cả xoa bóp và châm cứu (*)
Khí huyết không thông nảy trăm bệnh
Khí hoà tâm bình bệnh khó sinh.

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

Bệnh hẹp van tim 2 lá

Nhà văn Phạm phú Thép-Chủ của Blog Nguoibadon,bị bệnh này.Hiện đang nằm ĐT tại BV Huế (15/7/2012).

Bệnh hẹp van tim hai lá
 
Sử dụng thiết bị chụp mạch hiện đại phục vụ điều trị bệnh tim mạch ở Viện Tim mạch (Bạch Mai) Ảnh: H.Oai
Van hai lá nối liền nhĩ trái và thất trái, giúp máu đi một chiều từ nhĩ trái xuống thất trái. Van hai lá là một trong những van quan trọng của tim. Hẹp van hai lá là hiện tượng lá van hay mép van bị dính với nhau làm lỗ van bị hẹp lại, cản trở máu lưu thông từ nhĩ trái xuống thất trái. Hẹp van hai lá phần lớn là do thấp tim, cũng có thể do bẩm sinh hay là biến chứng của các bệnh Lupus, bệnh viêm khớp dạng thấp...
Bệnh thấp tim thường gặp ở lứa tuổi từ 5 đến 15 tuổi. ở Việt Nam, thấp tim có thể gặp ở lứa tuổi nhỏ hơn và tiến triển nhanh hơn. Nếu không được điều trị kịp thời và đầy đủ, van hai lá ngày càng bị thương tổn nặng: lá van dầy lên, vôi hóa ở cả lá van và tổ chức dưới van, phải phẫu thuật thay bằng một van nhân tạo. Đây là một phẫu thuật phức tạp và tốn kém.
Khi bị hẹp van hai lá, máu từ nhĩ trái xuống thất trái bị cản trở, ứ lại ở phổi nên bệnh nhân thường có cảm giác mệt mỏi, khó thở khi gắng sức và thường phải ngồi để thở. Mức độ khó thở ngày càng tăng dần. Ngoài ra người bệnh có thể bị đau ngực, ho ra máu, dễ nhầm với bệnh lao phổi. Nhiều bệnh nhân đến viện vì tai biến do cục máu đông hình thành trong tim bong ra, trôi lên não gây tai biến ở não (hôn mê hay liệt nửa người) và ở chi (gây thiếu máu chi, nếu không được điều trị kịp thời có thể phải cắt cụt chi).
Ngày nay, nhờ có siêu âm, đặc biệt siêu âm doppler màu, các thầy thuốc có thể thăm dò đầy đủ và hiệu quả bệnh hẹp van hai lá, từ đó có phương pháp điều trị thích hợp. Với máy siêu âm trắng đen thông thường, bác sĩ cũng có thể bước đầu chẩn đoán được bệnh và gửi bệnh nhân đến các nhà chuyên khoa tim mạch để thăm dò đầy đủ hơn.
Bệnh hẹp van hai lá nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng và có thể dẫn đến tử vong. Để tránh các biến chứng do bệnh hẹp van hai lá gây ra, cần phải phòng ngừa và điều trị bệnh một cách đúng đắn và hiệu quả. Đặc biệt, phải chú ý phát hiện, điều trị kịp thời bệnh thấp tim ở trẻ nhỏ. Ngày nay, nhờ các tiến bộ trong y học, việc điều trị bệnh hẹp van hai lá đã đạt được những kết quả rất tốt, kể cả trong điều trị nội khoa hay trong ngoại khoa... Về điều trị nội khoa, phải phòng ngừa thấp tim đến năm 40 tuổi. Nhiều khuyến cáo cho rằng nên tiêm phòng ngừa thấp tim suốt đời, đặc biệt ở những người hay bị viêm họng. Phải phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn khi nhổ hay chữa răng cũng như khi thực hiện thủ thuật ngoại khoa. Khi có các triệu chứng như đau ngực, khó thở, mệt mỏi, phù hay ho ra máu... cần phải đến ngay bác sĩ, nhất là bác sĩ chuyên khoa tim mạch để sớm phát hiện bệnh và điều trị kịp thời.
Về điều trị bằng phẫu thuật với bệnh hẹp van hai lá, có thể tiến hành mổ tim kín để mở rộng lỗ van bị hẹp (tách van) bằng ngón tay hay bằng dụng cụ. Ngày nay, nhờ tiến bộ trong ngành tim mạch học can thiệp, người ta sử dụng phương pháp nong (tách van) bằng bóng qua da mà không cần phải mổ. Tuy vậy, việc nong van bằng mổ hay bằng bóng đều có chỉ định cho từng trường hợp cụ thể. Khi van hai lá bị thương tổn nặng không thể nong được, phải tiến hành thay van bằng một van nhân tạo. Đây là một phẫu thuật nặng, tốn kém và cần phải có một chế độ kiểm tra theo dõi chặt chẽ tại bệnh viện và uống thuốc chống đông suốt đời với những bệnh nhân thay van cơ  học.
Thạc sĩ Nguyễn Văn Mão

Bóng inoue - Giải pháp hiệu quả cho bệnh nhân hẹp van tim


Cùng với những bệnh lý tim mạch phức tạp khác, bệnh hẹp van tim đang là mối đe dọa sức khỏe cho nhiều người bệnh ở nước ta. Một biện pháp điều trị hiệu quả cho căn bệnh này đã và đang được triển khai mạnh mẽ, đó là can thiệp hẹp van tim bằng dùng bóng inoue (xem ảnh) qua tĩnh mạch đùi. Phóng viên (PV) báo Sức khỏe & Đời sống đã có cuộc phỏng vấn TS. Phạm Mạnh Hùng- Trưởng phòng Tim mạch can thiệp - Viện Tim mạch Việt Nam, một trong những chuyên gia hàng đầu nước ta về lĩnh vực này.
PV: Thưa TS, hẹp van tim có phải là một bệnh lý nguy hiểm với tần số mắc lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt? Tại sao lại có tình trạng này?
 TS. Phạm Mạnh Hùng.
TS. Phạm Mạnh Hùng: Tại Viện Tim mạch Việt Nam, số bệnh nhân nội trú bị tổn thương van tim ước tính chiếm tới 20- 30%, trong đó hẹp van hai lá chiếm tỷ lệ lớn. Đến nay chưa có một điều tra cụ thể nào về tình trạng hẹp van tim trong cộng đồng nhưng số người mắc bệnh này đến bệnh viện điều trị vẫn khá phổ biến.
Hẹp van hai lá chủ yếu do hậu quả của thấp tim gây nên. Thủ phạm dẫn đến thấp tim là nhiễm liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A. Liên cầu khuẩn này thường gây các triệu chứng như viêm họng, viêm khớp. Người ta ước tính có tới 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị nhiễm liên cầu khuẩn beta, trong đó biến chứng sang thấp tim là 3-5%. Ở các nước phương Tây bệnh này rất hiếm gặp. Điều đáng nói là trong số các bệnh nhân hẹp van hai lá, chỉ có 30% bệnh nhân có tiền sử thấp tim rõ ràng, số còn lại chỉ là từng có biểu hiện thoáng qua như từng có sốt, viêm họng, mỏi khớp... Van hai lá và van động mạch chủ dễ bị tổn thương nhất bởi thấp tim.
PV: Nếu không được điều trị, hẹp van hai lá sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm nào, thưa TS?
TS. Phạm Mạnh Hùng: Hẹp van hai lá gây cản trở dòng máu từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái và từ đó dẫn đến những hậu quả về rối loạn cản trở huyết động. Bệnh hẹp van hai lá có nhiều biến chứng nguy hiểm như: phù phổi cấp, suy tim nặng, tắc mạch, rối loạn nhịp, suy tim mạn... Ở giai đoạn đầu mới bị hẹp, bệnh nhân chỉ thấy khó thở khi gắng sức nhưng ở giai đoạn sau thì tình trạng này ngày một trầm trọng hơn nếu không được điều trị kịp thời. Nhiều bệnh nhân bị hẹp van hai lá nhưng triệu chứng ban đầu khá kín đáo và khi có biến chứng rồi mới biết mình bị hẹp van tim như khi đã bị liệt (do tai biến tắc mạch não), ho ra máu (dễ nhầm lẫn với các bệnh về phổi)... Nếu hẹp van hai lá xảy ra từ khi trẻ còn nhỏ thì đó là tình trạng còi cọc, chậm phát triển. Đối với những sản phụ bị hẹp van hai lá bệnh đe dọa đến tính mạng của cả mẹ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai và đặc biệt khi sinh nở nếu không được điều trị và kiểm soát bệnh tốt.
PV: Sự phát triển của kỹ thuật can thiệp nong van hai lá bằng bóng inoue đã thay đổi mạnh mẽ hiệu quả điều trị bệnh hẹp van tim, TS có thể nói rõ về biện pháp điều trị tiên tiến này?
TS. Phạm Mạnh Hùng: Khi chưa có kỹ thuật can thiệp bằng bóng nong inoue thì biện pháp điều trị chủ yếu cho hẹp van hai lá là dùng thuốc và phẫu thuật. Chỉ định dùng thuốc chỉ mang tính chất tạm thời, trong những trường hợp hẹp khít cần phải tiến hành phẫu thuật tách van hoặc thay van. Quá trình phẫu thuật, dù là phẫu thuật tim kín hay tuần hoàn ngoài cơ thể thì vẫn chứa đựng nguy cơ xảy ra cho bệnh nhân, như ảnh hưởng quá trình gây mê, biến chứng, viêm nhiễm, thời gian điều trị lâu ngày, vết sẹo trên ngực, tâm lý bệnh nhân và có thể cả vấn đề chi phí... Với kỹ thuật dùng bóng nong inoue, chỉ với một vết chích nhỏ (vài milimet) ở tĩnh mạch đùi, bóng nong được đưa vào qua vị trí van bị hẹp, bơm căng bóng làm hai mép van tim bị dính do thấp tim được tách ra và lỗ van được tách rộng ra, giải quyết hiệu quả những rối loạn tuần hoàn mà hẹp van tim gây ra. Quá trình làm thủ thuật diễn ra trong khoảng 30 phút, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo, không phải gây mê, có thể ra viện vào ngày hôm sau.
Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là điều trị cho bệnh nhân bị hẹp hai lá mà bị suy tim nặng (không thể phẫu thuật được); phụ nữ có thai; trẻ em bị hẹp van hai lá; bệnh nhân bị hẹp van tim có kèm theo các biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống...
 
Kỹ thuật này đã trở thành thường quy tại Viện Tim mạch Việt Nam với số người bệnh được điều trị thành công trên 5.000 người, đưa nơi đây thành một trong những trung tâm điều trị hẹp van tim bằng bóng inoue lớn nhất thế giới và là nơi trao đổi kinh nghiệm cho nhiều quốc gia khác. Chi phí điều trị tại Việt Nam cũng chỉ bằng 1/6-1/10 ở các nước khác.
PV: Bên cạnh kỹ thuật nong van tim bằng bóng inoue, những phương pháp can thiệp qua da điều trị bệnh van tim đang có những tiến bộ gì?
TS. Phạm Mạnh Hùng: Biện pháp nong van bằng bóng (inoue hoặc bóng khác) qua da còn được ứng dụng điều trị các bệnh hẹp van tim khác do bẩm sinh hoặc mắc phải như hẹp van động mạch phổi, hẹp van động chủ, hẹp van ba lá...
Thời gian gần đây, ở Mỹ, châu Âu, người ta đã bắt đầu dùng các biện pháp can thiệp qua đường ống thông để thay van tim nhân tạo cho những trường hợp van động mạch chủ bị thoái hoá, mang lại kết quả ban đầu hứa hẹn. Kỹ thuật sửa van hai lá qua da cũng đang được tiến hành, đó là với ống thông đưa vào từ tĩnh mạch đùi, người ta có thể làm hạn chế mức độ hở van tim bằng một cái kẹp nhỏ để biến lỗ van thành thành hình số 8 hoặc có thể luồn dụng cụ qua xoang tĩnh mạch vành để thít nhỏ bớt vòng van lại.
Mặc dù hiệu quả của bóng nong inoue mang lại rất nhiều lợi ích cho người bệnh bị hẹp van hai lá nhưng vấn đề phòng bệnh thấp tim vẫn là điểm mấu chốt. Những bệnh nhân còn trẻ (dưới 40 tuổi) bị hẹp van hai lá được nong van, cần dùng thuốc và tái khám theo đúng chỉ định của bác sĩ, tiếp tục tiêm phòng thấp tim bằng tiêm penicilline chậm vì hẹp van tim do thấp vẫn có thể tái diễn sau nong.